23.3 C
Bắc Kạn
Thứ Năm, Tháng Tám 11, 2022
Home Blog Page 2

Đẩy nhanh giải ngân vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài

0

Tổng kế hoạch vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài thực hiện năm 2022 của tỉnh Bắc Kạn là 561.657 triệu đồng; kết quả giải ngân đến ngày 12/7/2022 mới đạt 19,8%. Trước tình hình đó, UBND tỉnh đã chỉ đạo triển khai các giải pháp đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn này.

Đường Bàn Văn Hoan, thành phố Bắc Kạn được nâng cấp, cải tạo thuộc dự án “Chương trình đô thị
miền núi phía Bắc – thị xã Bắc Kạn”  

Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu các chủ đầu tư dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài triển khai thực hiện các giải pháp đối với từng dự án theo thông báo của Sở Kế hoạch và Đầu tư; tích cực phối hợp với nhà tài trợ, Bộ Tài chính và cơ quan chủ quản đẩy nhanh tiến độ thực hiện các thủ tục rút vốn từ nhà tài trợ về tài khoản của dự án; khẩn trương hoàn thiện hồ sơ tạm ứng, thanh toán ngay sau khi có khối lượng; đôn đốc, chỉ đạo nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công, chủ động điều phối, giám sát chặt chẽ công tác thực hiện dự án của các bên liên quan (tư vấn, nhà thầu) theo các nguồn vốn đảm bảo việc thực hiện thông suốt; chủ động phối hợp các sở, ngành liên quan để kịp thời xử lý các vướng mắc phát sinh trong thực hiện dự án. Đối với dự án đã hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, phải khẩn trương lập, trình thẩm tra, phê duyệt quyết toán để giải ngân cho các nhà thầu theo đúng quy định.

Khẩn trương rà soát, đánh giá chi tiết, cụ thể về khả năng giải ngân của từng dự án, đề xuất điều chuyển kế hoạch vốn giữa các dự án chậm giải ngân sang các dự án có tiến độ giải ngân tốt, còn thiếu vốn. Đối với các trường hợp không có khả năng hoàn thành khối lượng dự án theo tiến độ đặt ra, phải cắt giảm, chuyển giao kế hoạch vốn đã được giao, các chủ đầu tư tổng hợp chính xác số liệu, nêu rõ nguyên nhân của từng dự án điều chỉnh giảm, có văn bản gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh. Phần kế hoạch vốn còn lại sau khi đã được điều chỉnh giảm, chủ đầu tư cam kết giải ngân hết 100%.

Các cơ quan tổng hợp, thẩm định, phê duyệt đẩy nhanh tiến độ thực hiện công tác thẩm định, phê duyệt đối với các nội dung thuộc chức năng, nhiệm vụ.

UBND tỉnh giao Sở Tài chính tiếp tục tham mưu cấp có thẩm quyền cho phép tỉnh được trả nợ gốc trước hạn vốn vay lại ODA và bổ sung kế hoạch vốn ODA vay lại còn thiếu năm 2022 cho tỉnh là 33.612 triệu đồng để đủ điều kiện giải ngân hết toàn bộ số kế hoạch vốn ODA cấp phát được giao.

Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính tiếp tục theo dõi, đôn đốc việc thực hiện và giải ngân vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài của các chủ đầu tư; rà soát, tổng hợp, tham mưu điều chỉnh kế hoạch vốn đã giao; chủ động báo cáo, tham mưu cho UBND tỉnh những nội dung có liên quan thuộc thẩm quyền và trách nhiệm theo quy định./.

Nguồn: https://backan.gov.vn/pages/day-nhanh-giai-ngan-von-oda-va-von-vay-uu-dai-nuoc-ngoai-7716.aspx

Phiên họp thứ ba của Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số

0

Sáng 8/8, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính – Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số đã chủ trì phiên họp thứ 3 của Ủy ban để đánh giá kết quả chuyển đổi số 6 tháng đầu năm 2022 và xác định phương hướng, giải pháp, nhiệm vụ chuyển đổi số thời gian tới.

Dự Phiên họp, tại điểm cầu tỉnh Bắc Kạn có Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Duy Hưng cùng các thành viên và Tổ công tác giúp việc Ban Chỉ đạo về chuyển đổi số của tỉnh.

Các đại biểu dự tại điểm cầu Bắc Kạn

Theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông – cơ quan thường trực của Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số, Thủ tướng Chính phủ đã Quyết định ngày 10/10 là Ngày Chuyển đổi số quốc gia. Chủ đề năm 2022 là “Chuyển đổi số giải quyết các vấn đề của xã hội vì một cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân”.

Đến nay, 100% các bộ, ngành, địa phương đã kiện toàn Ban Chỉ đạo chuyển đổi số; 7/22 bộ, cơ quan ngang bộ và 34/63 địa phương đã ban hành kế hoạch hoạt động của Ban Chỉ đạo chuyển đổi số năm 2022.

Sau quá trình xây dựng, 35/35 nền tảng số quốc gia đã hoàn thành phát triển, công bố và đưa vào sử dụng, trong đó có 31 nền tảng đã đưa vào sử dụng chính thức, 4 nền tảng đang sử dụng thử nghiệm. Bộ Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với các bộ, ngành chỉ đạo phát triển, đánh giá các nền tảng phục vụ chính phủ số, kinh tế số, xã hội số.

Cùng với đó, các tỉnh, thành phố đã triển khai phổ cập kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia; xây dựng 40.590 tổ công nghệ số cộng đồng đến tận thôn, xóm với hơn 200.000 thành viên tham gia phục vụ công tác chuyển đổi số tại cơ sở.

Đối với việc xây dựng chính phủ số, mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước kết nối 4 cấp hành chính tiếp tục được phát triển, tạo hạ tầng truyền dẫn ổn định, an toàn kết nối các hệ thống thông tin phục vụ. Đến nay, mạng đã kết nối đến 100% huyện, hơn 97% xã trên toàn quốc.

Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư như bảo hiểm, hộ tịch điện tử, đăng ký doanh nghiệp… được đẩy mạnh triển khai, kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ cung cấp dịch vụ công trực tuyến và các tiện ích cho người dân và doanh nghiệp.

Hoạt động của người dân trên môi trường số cũng đã ghi nhận sự tăng trưởng cả về số lượng người sử dụng và thời lượng sử dụng. Việt Nam đang có 8 nền tảng số có số lượng người dùng thường xuyên hằng tháng đạt trên 10 triệu và số lượng các nền tảng số Việt Nam có phát sinh người dùng thường xuyên hằng tháng tăng so với cùng kỳ năm trước là 8,47%.

Tại Phiên họp, các bộ, ngành, địa phương đã tập trung đánh giá các nhiệm vụ được triển khai trong thời gian qua, những vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn. Theo chia sẻ của các đại biểu, hiện nay, hệ thống đơn vị chuyên trách về công nghệ thông tin của các bộ, ngành, địa phương chưa được kiện toàn về cơ cấu, tổ chức, chức năng, nhiệm vụ. Các cán bộ, công chức, viên chức thiếu kiến thức, kỹ năng để thực hiện chuyển đổi số. Lực lượng lao động làm việc trong các ngành nghề khác nhau còn thiếu kỹ năng số trong thực hiện công việc… Đồng thời, các đại biểu cũng đã đề ra nhiệm vụ, giải pháp để đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số quốc gia trong thời gian tới.

Phát biểu Kết luận, Thủ tướng Phạm Minh Chính biểu dương những kết quả tích cực mà bộ, ngành, địa phương đã đạt được trong việc thực hiện chương trình chuyển đổi số quốc gia thời gian qua, phục vụ kịp thời, hiệu quả cho người dân và doanh nghiệp. Đồng thời phân tích, chỉ ra những hạn chế lớn như việc sử dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ cao vẫn còn hạn chế; người dân chưa thấy thuận tiện, dễ dùng khi tiếp cận các nền tảng số; hạ tầng phục vụ chuyển đổi số còn hạn chế; nguồn nhân lực chất lượng cao cho chuyển đổi số khó khăn…

Thủ tướng nhấn mạnh, chuyển đổi số phải là công cụ quan trọng trong nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả. Vì thế, để tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện, nguồn lực cho triển khai chuyển đổi số, Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương vào cuộc, triển khai dứt điểm, quyết liệt và tập trung bố trí nguồn lực để hoàn thành các nhiệm vụ trọng tâm trong kế hoạch hoạt động của Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số năm 2022. Các bộ, ngành, địa phương phải chia sẻ, kết nối thông tin với nhau; hướng dẫn người dân sử dụng các nền tảng số nhiều hơn; khẩn trương ban hành hệ thống văn bản về chuyển đổi số; tập trung tuyên truyền để người dân, doanh nghiệp hiểu rõ và hưởng ứng chương trình chuyển đổi số.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Thông tin và Truyền thông – cơ quan thường trực của Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số phối hợp với các đơn vị liên quan tổng hợp các văn bản, thường xuyên đôn đốc, tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện chương trình chuyển đổi số; sớm hoàn thiện hệ thống văn bản liên quan về chuyển đổi số. Các bộ, ngành khác như Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Công an,… có trách nhiệm triển khai thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm phù hợp với điều kiện thực tế.

Tại Phiên họp, Ủy ban Quốc gia về chuyển đối số đã công bố Báo cáo Chỉ số đánh giá chuyển đổi số cấp bộ, cấp tỉnh năm 2021. Việc xác định Chỉ số đánh giá chuyển đổi số cấp bộ, tỉnh nhằm theo dõi, đánh giá một cách thực chất và công bằng kết quả chuyển đổi số hằng năm của các bộ, ngành, địa phương. Theo đó, ở nhóm 17 bộ, ngành cung cấp dịch vụ công, 3 cơ quan dẫn đầu là Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Còn ở cấp tỉnh, thành phố, top 5 địa phương dẫn đầu về chuyển đổi số trong năm 2021 lần lượt là Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, thành phố Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Lạng Sơn. Tỉnh Bắc Kạn xếp thứ 51/63 tỉnh, tăng 8 bậc (năm 2020, Bắc Kạn xếp hạng thứ 59/63 tỉnh, thành phố)./.

Nguồn: https://backan.gov.vn/pages/phien-hop-thu-3-cua-uy-ban-quoc-gia-ve-chuyen-doi-so-6c3d.aspx

Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật tại Khu Công nghiệp Thanh Bình

0

Chiều 7/8, Ban Quản lý các Khu công nghiệp phối hợp với Liên đoàn Lao động huyện Chợ Mới, Phòng An ninh kinh tế (Công an tỉnh Bắc Kạn) tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động, người sử dụng lao động năm 2022 và phát động Phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”.

Các đại biểu dự Hội nghị

Tại Hội nghị, người lao động và người sử dụng lao động tại các doanh nghiệp trong Khu Công nghiệp Thanh Bình đã được giới thiệu một số điểm mới của Bộ luật Lao động năm 2019; những điểm mới của Bộ luật Lao động năm 2019 về hợp đồng lao động; tuyên truyền một số quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội theo Nghị định 12/2022/NĐ-CP ngày 17/1/2022 của Chính phủ; một số quy định về dân chủ cơ sở và tuyên truyền pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Tiếp đó, đại diện Phòng An ninh kinh tế (Công an tỉnh Bắc Kạn) đã phát động Phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” và thông tin về tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn…

Phó Trưởng Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Hoàng Văn Khởi cho biết, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho cho người lao động, người sử dụng lao động và Phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” là cầu nối đưa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, góp phần nâng cao nhận thức của người sử dụng lao động và người lao động, đảm bảo mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định giữa người lao động và người sử dụng lao động tại doanh nghiệp. Thông qua Hội nghị, giúp cho công nhân lao động nâng cao nhận thức về pháp luật lao động cũng như Phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, từ đó thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo các quy định của pháp luật./.

Nguồn: https://backan.gov.vn/pages/tuyen-truyen-pho-bien-giao-duc-phap-luat-tai-khu-c-7feb.aspx

Danh sách tổ chức giám định tư pháp công lập, giám định viên tư pháp, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc, người giám định tư pháp theo vụ việc trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

0

Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh tại Công văn số 5126/UBND-NCPC ngày 8/8/2022, Cổng Thông tin điện tử tỉnh đăng tải danh sách tổ chức giám định tư pháp công lập, giám định viên tư pháp, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc, người giám định tư pháp theo vụ việc trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, cụ thể như sau:

I. DANH SÁCH TỔ CHỨC GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN

STT

Tên tổ chức

Địa chỉ

Quyết định, ngày, tháng, năm thành lập

Lĩnh vực

Số điện thoại

01

Trung tâm Pháp y và Giám định y khoa tỉnh Bắc Kạn

Tổ 9, phường Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn

Quyết định số 1647/QĐ-UBND ngày 06/9/2021 của UBND tỉnh Bắc Kạn

– Giám định pháp y

– Giám định y khoa

0209.3878.106

02

Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bắc Kạn

Tổ 11C, phường Đức Xuân, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn

Quyết định số 20/QĐ-UBND ngày 15/01/1998 của UBND tỉnh Bắc Kạn

Kỹ thuật hình sự, pháp y tử thi

0692549221

II. DANH SÁCH GIÁM ĐỊNH VIÊN TƯ PHÁP

STT

Họ và tên

Ngày, tháng, năm sinh

Quyết định, ngày, tháng, năm bổ nhiệm

Lĩnh vực

Đơn vị công tác

Ghi chú

1

Nông Thị Lanh

11/9/1967

Quyết định số 2498/QĐ-UBND ngày 31/12/2014

Giám định tài liệu

Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bắc Kạn

 

2

Nguyễn Đăng Sơn

13/02/1964

– Quyết định số 20/QĐ-UBND ngày 15/01/1998

– Quyết định số 1178/QĐ-UBND ngày 03/8/2012

– Giám định pháp y

– Giám định sinh học

Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bắc Kạn

 

3

Long Văn Hải

14/4/1965

Quyết định số 363/QĐ-UBND ngày 06/3/2007

Giám định dấu vết đường vân

Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bắc Kạn

 

4

Lý Anh Cường

26/5/1972

– Quyết định số 1469/QĐ-UB ngày 17/8/2004

– Quyết định số 2498/QĐ-UBND ngày 31/12/2014

– Giám định pháp y

– Giám định dấu vết đường vân

Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bắc Kạn

 

5

Lê Văn Đức

17/9/1977

– Quyết định số 1229/QĐ-UBND ngày 08/7/2011

– Quyết định số 1226/QĐ-UBND ngày 17/7/2019

– Giám định cơ học

– Giám định kỹ thuật

Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bắc Kạn

 

6

Nguyễn Thị Hồng Nụ

11/3/1980

Quyết định số 1228/QĐ-UBND ngày 08/7/2011

Giám định sinh học

Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bắc Kạn

 

7

Lý Thị Hạnh

18/12/1978

Quyết định số 2293/QĐ-UBND ngày 10/12/2011

Giám định tài liệu

Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bắc Kạn

 

8

Hà Thị Hiên

20/3/1978

– Quyết định số 1357/QĐ-UBND ngày 07/9/2017;

– Quyết định số 876/QĐ-UBND ngày 25/5/2022

– Giám định tài liệu;

– Giám định pháp y

Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bắc Kạn

 

9

Hứa Kiên Trường

26/02/1987

Quyết định số 1396/QĐ-UBND ngày 14/9/2015

Giám định hóa học

Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bắc Kạn

 

10

Nguyễn Hải Anh

20/02/1987

Quyết định số 1224/QĐ-UBND ngày 17/7/2019

Giám định hóa học

Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bắc Kạn

 

11

Hoàng Khải Du

02/8/1991

Quyết định số 20877/QĐ-UBND ngày 03/11/2021

Giám định tài liệu

Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bắc Kạn

 

12

Đàm Văn Bách

15/10/1968

Quyết định số 1697/QĐ-UBND ngày 20/10/2017

Pháp y

Trung tâm pháp y và Giám định y khoa tỉnh Bắc Kạn

 

13

Nông Văn Sỹ

13/12/1975

Quyết định số 708/QĐ-UBND ngày 09/5/2012

Pháp y

Trung tâm pháp y và Giám định y khoa tỉnh Bắc Kạn

 

14

Phạm Thị Duyên

24/10/1975

Quyết định số 2034/QĐ-UBND ngày 10/11/2020

Pháp y

Trung tâm pháp y và Giám định y khoa tỉnh Bắc Kạn

 

15

Hà Huy Đát

6/5/1962

Quyết định 2116/QĐ-BTP ngày 28/9/2006 của Bộ Tư pháp

Thuế

Phòng kiểm tra nội bộ, Cục thuế tỉnh Bắc Kạn

 

16

Lê Hùng Xuân

16/3/1966

Quyết định số 2141/QĐ-UBND ngày 31/10/2008 của UBND tỉnh Bắc Kạn

Thuế

Chi Cục thuế huyện

Chợ Đồn

 

17

Lê Đình Đồng

27/4/1967

Quyết định số 513/QĐ-UBND ngày 17/3/2009 của UBND tỉnh Bắc Kạn

Thuế

Chi Cục thuế khu vực Bắc Kạn – Bạch Thông – Chợ Mới

 

18

Vũ Anh Lợi

01/8/1970

Quyết định số 2521/QĐ-BTC ngày 02/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Thuế

Chi cục thuế khu vực Ba Bể – Ngân Sơn – Pác Nặm

 

19

Nguyễn Thùy Linh

02/9/1976

Quyết định số 2521/QĐ-BTC ngày 02/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Thuế

Phòng kê khai và kế toán thuế, Cục thuế tỉnh Bắc Kạn

 

20

Hoàng Thị Thu Liễu

13/9/1973

Quyết định số 2521/QĐ-BTC ngày 02/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Thuế

Phòng Thanh tra – kiểm tra, Cục thuế tỉnh Bắc Kạn

 

21

Trịnh Văn Phụng

7/9/1973

Quyết định số 2521/QĐ-BTC ngày 02/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Thuế

Chi cục thuế khu vực Ba Bể – Ngân Sơn – Pác Nặm

 

22

Ma Văn Huy

16/9/1980

Quyết định số 2521/QĐ-BTC ngày 02/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Thuế

Phòng Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, Cục thuế tỉnh Bắc Kạn

 

23

Trịnh Việt Chính

5/01/1978

Quyết định số 2521/QĐ-BTC ngày 02/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Thuế

Chi cục thuế khu vực Bắc Kạn – Bạch Thông – Chợ Mới

 

24

Đồng Thị Chi

12/12/1970

Quyết định số 2521/QĐ-BTC ngày 02/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Thuế

Chi cục thuế khu vực Ba Bể – Ngân Sơn – Pác Nặm

 

25

Dương Hoàng Nguyên

03/02/1965

Quyết định số 2521/QĐ-BTC ngày 02/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Thuế

Văn phòng, Cục thuế tỉnh Bắc Kạn

 

 

 

26

Nguyễn Văn Huyên

09/02/1968

Quyết định số 2521/QĐ-BTC ngày 02/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Thuế

Chi Cục thuế huyện Chợ Đồn

 

27

Dương Hữu Hiệp

24/02/1969

Quyết định số 2521/QĐ-BTC ngày 02/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Thuế

Chi Cục thuế khu vực Ba Bể – Ngân Sơn – Pác Nặm

 

28

Lý Văn Quyến

09/10/1970

Quyết định số 2521/QĐ-BTC ngày 02/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Thuế

Chi Cục thuế khu vực Bắc Kạn – Bạch Thông – Chợ Mới

 

29

Nguyễn Vy Khanh

01/01/1981

Quyết định số 2521/QĐ-BTC ngày 02/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Thuế

Phòng Nghiệp vụ – Dự toán – Pháp chế, Cục thuế tỉnh Bắc Kạn

 

30

Nguyễn Thị Thu Huyền

19/7/1982

Quyết định số 2521/QĐ-BTC ngày 02/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Thuế

Phòng Thanh tra – kiểm tra, Cục thuế tỉnh Bắc Kạn

 

31

Nông Thu Hà

04/5/1974

Quyết định số 2521/QĐ-BTC ngày 02/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Thuế

Phòng Kê khai và Kế toán thuế, Cục thuế tỉnh Bắc Kạn

 

32

Vũ Thị Thanh Huyền

11/10/1971

Quyết định số 2521/QĐ-BTC ngày 02/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Thuế

Chi Cục thuế khu vực Bắc Kạn – Bạch Thông – Chợ Mới

 

33

Nguyễn Đình Tân

15/12/1983

Quyết định số 2521/QĐ-BTC ngày 02/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Thuế

Chi Cục thuế khu vực Bắc Kạn – Bạch Thông – Chợ Mới

 

34

Trần Quốc Vượng

11/01/1980

Quyết định số 2521/QĐ-BTC ngày 02/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Thuế

Phòng Nghiệp vụ – Dự toán Pháp chế, Cục thuế tỉnh Bắc Kạn

 

35

Vũ Thu Quyên

27/6/1982

Quyết định số 2521/QĐ-BTC ngày 02/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Thuế

Phòng kiểm tra nội bộ, Cục thuế tỉnh Bắc Kạn

 

36

Lăng Ngọc Tú

26/3/1986

Quyết định số 516/QĐ-NHNN ngày 24/3/2020

Ngân hàng

Ngân hàng nhà nước Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Kạn

 

37

Hoàng Văn Sơn

22/01/1964

Quyết định số 1542/QĐ-UBND ngày 04/8/2003

Văn hóa

Thư viện tỉnh

 

38

Nguyễn Quang Minh

04/02/1978

Quyết định số 1808/QĐ-UBND ngày 29/9/2021

Quản lý giá

Phòng Quản lý công sản, giá và Tài chính doanh nghiệp, Sở Tài chính

 

39

Cao Thị Quỳnh Hoa

19/10/1988

Quyết định số 1808/QĐ-UBND ngày 29/9/2021

Quản lý ngân sách

Phòng Quản lý Ngân sách, Sở Tài chính

 

40

Trịnh Tiến Hùng

16/9/1976

Quyết định số 1808/QĐ-UBND ngày 29/9/2021

Tài chính đầu tư

Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bắc Kạn

 

41

Hứa Văn Chương

28/10/1990

Quyết định số 1808/QĐ-UBND ngày 29/9/2021

Tài chính – Kế toán

Phòng Tài chính – Hành chính sự nghiệp, Sở Tài chính

 

42

Nông Ngọc Duyên

18/01/1979

Quyết định số 1376/QĐ-UBND ngày 25/8/2016

Đất đai

Sở Tài nguyên và Môi trường

 

43

Nguyễn Phúc Đán

10/3/1974

Quyết định số 1376/QĐ-UBND ngày 25/8/2016

Khoáng sản

Phòng Khoáng sản, Sở Tài nguyên và Môi trường

 

44

Nguyễn Mạnh Hà

22/6/1980

Quyết định số 628/QĐ-UBND ngày 21/4/2022

Môi trường

Phòng Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường

 

45

Trương Phúc Vi

01/01/1979

Quyết định số 628/QĐ-UBND ngày 21/4/2022

Đất đai và đo đạc bản đồ

Phòng Đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường

 

46

Tống Ngọc Thưởng

27/4/1985

Quyết định số 628/QĐ-UBND ngày 21/4/2022

Khoáng sản

Phòng Khoáng sản – Tài nguyên nước, Sở Tài nguyên và Môi trường

 

47

Hà Nhân Tùng

16/5/1990

Quyết định số 628/QĐ-UBND ngày 21/4/2022

Tài nguyên nước

Phòng Khoáng sản – Tài nguyên nước, Sở Tài nguyên và Môi trường

 

48

Nguyễn Ngọc Quất

23/5/1966

Quyết định số 1177/QĐ-UBND ngày 03/8/2012

Xây dựng

Sở Xây dựng

 

49

Đào Minh Thuyết

27/01/1972

Quyết định số 1177/QĐ-UBND ngày 03/8/2012

Xây dựng

Sở Xây dựng

 

 

50

Nguyễn Thị Hiền

01/02/1975

Quyết định số 1177/QĐ-UBND ngày 03/8/2012

Xây dựng

 

Sở Xây dựng

 

 

III. DANH SÁCH TỔ CHỨC GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP THEO VỤ VIỆC

STT

Tên tổ chức

Địa chỉ

Quyết định thành lập

Quyết định công bố tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc

Lĩnh vực chuyên môn

Kinh nghiệm

Số điện thoại

01

Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định xây dựng thuộc Sở Xây dựng

Tổ 2, phường Đức Xuân, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn

Quyết định số 2615/QĐ-UBND ngày 17/11/2004 của UBND tỉnh Bắc Kạn

Quyết định số 2061/QĐ-UBND ngày 12/11/2020 của UBND tỉnh Bắc Kạn

Xây dựng

Từ 2004 đến nay

0209.3871.46

IV. DANH SÁCH NGƯỜI GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP THEO VỤ VIỆC

STT

Họ và tên

Ngày, tháng, năm sinh

Lĩnh vực chuyên môn

Kinh nghiệm trong hoạt động chuyên môn và hoạt động giám định tư pháp

Nơi công tác

Ghi chú

  1.  

Đinh Ngọc Tùng

16/10/1980

Tài chính Ngân hàng

18 năm trong hoạt động ngân hàng, bao gồm các hoạt động cấp tín dụng, nhận tiền gửi và cung ứng dịch vụ qua tài khoản thanh toán

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Kạn

 

  1.  

Bùi Quang Tùng

30/12/1980

Tài chính

Ngân hàng

16 năm trong hoạt động ngân hàng, bao gồm các hoạt động cấp tín dụng, nhận tiền gửi và cung ứng dịch vụ qua tài khoản thanh toán

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Kạn

 

  1.  

Lý Thu Hường

22/4/1984

Ngân hàng

14 năm trong hoạt động ngân hàng, bao gồm các hoạt động cấp tín dụng, nhận tiền gửi và cung ứng dịch vụ qua tài khoản thanh toán

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Kạn

 

  1.  

Nông Quang Hữu

30/4/1983

Giám định tiền phạt do NHNN phát hành

14 năm trong hoạt động ngân hàng trong lĩnh vực tiền tệ, kho quỹ

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Bắc Kạn

 

  1.  

Trịnh Xuân Hải

04/6/1978

Giám định kỹ thuật phương tiện cơ giới đường bộ

16 năm công tác trong lĩnh vực đăng kiểm phương tiện cơ giới đường bộ

Sở Giao thông vận tải tỉnh Bắc Kạn

 

  1.  

Đàm Văn Tấn

26/12/1984

Xác thực ký số trong giao dịch điện tử

5 năm triển khai chữ ký số chuyên dùng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

Phòng Công nghệ thông tin – Bưu chính, Viễn thông, Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Bắc Kạn

 

  1.  

Nguyễn Thị Hải Yến

04/7/1982

Thiết bị viễn thông

6 năm giám định về thiết bị viễn thông

Phòng Công nghệ thông tin – Bưu chính, Viễn thông, Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Bắc Kạn

 

  1.  

Nông Thị Phúc

13/7/1979

Thông tin, báo chí, xuất bản

16 năm quản lý nhà nước về hoạt động thông tin, báo chí, xuất bản

Phòng Công nghệ thông tin – Bưu chính, Viễn thông, Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Bắc Kạn

 

Nguồn: https://backan.gov.vn/pages/danh-sach-to-chuc-giam-dinh-tu-phap-cong-lap-giam–485d.aspx

Bắc Kạn tham dự Hội nghị trực tuyến toàn quốc sơ kết Đề án 06

0

Sáng 9/8, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Ủy ban quốc gia về chuyển đổi số chủ trì Hội nghị trực tuyến toàn quốc sơ kết 6 tháng triển khai Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06).

Tham dự Hội nghị tại điểm cầu Bắc Kạn có Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Đăng Bình, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Duy Hưng và lãnh đạo một số sở, ngành, địa phương.

Các đại biểu dự Hội nghị tại điểm cầu tỉnh Bắc Kạn

Trong 6 tháng đầu năm 2022, Đề án 06 đã được triển khai từ Trung ương đến cơ sở và thu được những kết quả bước đầu tích cực, được người dân, doanh nghiệp đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao. Qua đó góp phần thay đổi phương thức quản lý công dân; khắc phục tình trạng thiếu thống nhất và nâng cao chất lượng, hiệu quả trong quản lý thông tin công dân, tiết kiệm thời gian, công sức; tạo điều kiện thuận lợi và là nền tảng quan trọng để triển khai dịch vụ công trực tuyến phục vụ người dân, doanh nghiệp, góp phần đẩy mạnh phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số cũng như phục hồi nhanh, phát triển kinh tế – xã hội.

Việc triển khai dịch vụ công trực tuyến trên nền tảng Cơ sở dữ liệu quốc gia (CSDLQG) về dân cư được đẩy mạnh, đem lại hiệu quả thiết thực. Đến nay, đã có gần 125 triệu hồ sơ xử lý trên Cổng dịch vụ công quốc gia; đã hoàn thành 21/25 dịch vụ công mức độ 3, 4 đúng lộ trình. Việc thực hiện các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 đã mang lại nhiều tiện lợi cho người dân và doanh nghiệp.

Việc kết nối, chia sẻ giữa CSDLQG về dân cư với CSDL các bộ, ngành, địa phương được đẩy mạnh, hiện đã kết nối, chia sẻ dữ liệu với 11 bộ, ngành, 14 địa phương và 4 doanh nghiệp nhà nước; hoàn thành đồng bộ dữ liệu hơn 92 triệu mũi tiêm phòng Covid-19; thông tin về giáo dục của gần 1,9 triệu công dân; thông tin hộ chiếu của trên 1,3 triệu công dân; thông tin của trên 1 triệu thuê bao di động để giải quyết dứt điểm tình trạng SIM rác; kết nối dữ liệu để làm sạch dữ liệu tài khoản ngân hàng.

Đáng chú ý, các bộ, ngành, địa phương đã phối hợp đẩy mạnh ứng dụng thẻ căn cước công dân gắn chíp điện tử, tài khoản định danh điện tử; cấp trên 67 triệu thẻ căn cước có gắn chíp điện tử. Công tác kiểm tra an ninh, an toàn, khắc phục các lỗ hổng bảo mật trong các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu được chú trọng.

Tại Hội nghị, các đại biểu đã thảo luận, phân tích, đánh giá những kết quả trong thực hiện Đề án 06, đồng thời chia sẻ những kinh nghiệm hay, bài học quý, cách làm sáng tạo của đơn vị, địa phương.

Kết luận Hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ghi nhận những kết quả tích cực trong công tác chuyển đổi số thời gian qua, song chỉ rõ đây mới là kết quả bước đầu, vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần giải quyết, nhiều việc phải làm phía trước.

Để đạt được các mục tiêu đề ra trong thời gian tới, Thủ tướng yêu cầu liên tục đổi mới, có tư duy đột phá và tầm nhìn chiến lược. Người đứng đầu Chính phủ lưu ý sử dụng tài nguyên thông tin, dữ liệu thiết thực, hiệu quả; có tính kết nối, liên thông, chia sẻ cao; dữ liệu này không chỉ phục vụ phát triển Chính phủ số mà còn phục vụ nền kinh tế số, xã hội số, công dân số văn minh, hiện đại ngang tầm quốc tế, khu vực; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cá thể hóa trách nhiệm, đề cao trách nhiệm người đứng đầu. Cùng với đó là xây dựng cơ chế theo dõi, giám sát việc triển khai CSDLQG về dân cư. Phát triển CSDLQG về dân cư thời gian tới cần thể hiện được tính “thuận lợi, công khai, minh bạch, đồng thuận xã hội, bảo đảm được an ninh an toàn cho người dân”. Tăng cường tuyên truyền sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân nhằm nâng cao nhận thức trong việc thực hiện các dịch vụ công trên môi trường trực tuyến…

Tại Hội nghị, Thủ tướng chính thức công bố ứng dụng VneID là ứng dụng công dân số quốc gia. Thủ tướng giao Bộ Công an phối hợp với các bộ, ngành, địa phương có lộ trình để đưa các tiện ích thiết yếu lên ứng dụng này, đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền để người dân luôn tin tưởng, sử dụng.

Thông qua VneID, cho phép người dân cập nhật thêm các thông tin cá nhân lên hệ thống CSDLQG về dân cư như trình độ học vấn, quan hệ họ hàng; bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, tiêm chủng, giấy phép lái xe, tài khoản ngân hàng, viễn thông, công chức, viên chức, đảng viên…

Phấn đấu đến cuối năm 2022, đầu năm 2023 sẽ có khoảng 3 – 5 triệu người dân sử dụng VneID, với tốc độ tăng ít nhất 5% mỗi tháng; cung cấp 8 – 10 tiện ích nghiệp vụ ngành Công an như tố giác tội phạm, phòng chống cháy nổ, an toàn giao thông, bảo vệ môi trường, khai báo tạm trú, tạm vắng…; cung cấp 8 – 10 tiện ích cho người dân như định danh, xác thực người dân, dịch vụ ngân hàng, mua sắm, thanh toán, giáo dục, y tế, di chuyển nội địa, dịch vụ tiện ích cho nhóm đối tượng yếu thế như người già, trẻ em, người có công, người dân tộc thiểu số./.

Nguồn: https://backan.gov.vn/pages/bac-kan-tham-du-hoi-nghi-truc-tuyen-toan-quoc-so-k-f2b1.aspx

Trong tháng 8, tập trung thực hiện 9 nhiệm vụ trọng tâm

0

UBND tỉnh vừa có Công văn giao các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố nghiên cứu, tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm trong tháng 8 theo định hướng chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy.

Theo báo cáo đánh giá của Thường trực Tỉnh ủy, trong tháng 7, UBND tỉnh đã chỉ đạo thực hiện tốt công tác phát triển kinh tế – xã hội; kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện và giải ngân các nguồn vốn đầu tư công; tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; thực hiện kịp thời các chế độ, chính sách an sinh xã hội. Triển khai kế hoạch phục hồi, xây dựng các cơ chế chính sách hỗ trợ, phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh. Tăng cường, đôn đốc việc triển khai các dự án trọng điểm như tuyến đường thành phố Bắc Kạn – hồ Ba Bể kết nối sang Na Hang – Tuyên Quang…

Các địa phương tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thu hoạch vụ xuân, triển khai sản xuất vụ mùa. Tổng sản lượng lương thực có hạt vụ đông xuân ước 86.646 tấn, đạt 99% kế hoạch, giảm 10% so với cùng kỳ năm 2021. Công tác trồng rừng đã hoàn thành kế hoạch với diện tích trồng mới 4.155 ha, đạt 104% kế hoạch. Toàn tỉnh hiện có hơn 62 nghìn con đại gia súc, đạt 96% kế hoạch; 1.786 nghìn con gia cầm, đạt 91% kế hoạch. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được các địa phương tiếp tục triển khai thực hiện. Tỉnh đã ban hành Quyết định công nhận và tổ chức lễ công bố 6 xã đạt chuẩn nông thôn mới năm 2021; có 1 đơn vị cấp huyện hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới (thành phố Bắc Kạn).

Giá trị sản xuất công nghiệp trong tháng ước đạt 126.235 triệu đồng; lũy kế 7 tháng ước đạt 819.009 triệu đồng, tăng 7,02% so với cùng kỳ năm 2021 và đạt 50,55% kế hoạch năm 2022. Công tác giải ngân các nguồn vốn đầu tư đạt thấp so với kế hoạch. Nguyên nhân do tập trung hoàn ứng các dự án chuyển tiếp năm 2021; dự án mới năm 2022 đang thực hiện thủ tục đầu tư nên chưa có khối lượng giải ngân; dự án ODA giải ngân trên cơ sở tỷ lệ ODA vay lại trong khi tổng số kế hoạch vốn vay lại năm 2022 trung ương giao thấp nên không đủ điều kiện giải ngân. Đến hết tháng 7, giải ngân được 600 tỷ đồng, đạt 22,6% kế hoạch. 

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong tháng ước đạt 513,56 tỷ đồng, tăng 32,18% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 7 tháng ước đạt 3.371 tỷ đồng, đạt 53,51% kế hoạch. Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng ước đạt 55,7 tỷ đồng; lũy kế 7 tháng đạt 474,37 tỷ đồng, đạt 59% dự toán Trung ương giao, 54% dự toán tỉnh giao. Các đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước thực hiện tốt việc kiểm soát chi thường xuyên theo quy định. Du lịch có bước tăng trưởng khá. Trong tháng, có hơn 35.000 lượt khách đến du lịch tại địa phương; doanh thu đạt 24,5 tỷ đồng; lũy kế 7 tháng có 269.700 lượt khách; tổng doanh thu đạt 188,7 tỷ đồng, bằng 42,8% kế hoạch.

Ngành Giáo dục và Đào tạo tập trung tổ chức tốt kỳ thi vào lớp 10; kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2022 đảm bảo an toàn, nghiêm túc gắn với công tác phòng, chống dịch Covid-19. Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT đạt 97,66%, xếp thứ 33/63 tỉnh thành phố, bằng so với năm 2021. Ngành và các đơn vị đang tích cực chuẩn bị điều kiện cho năm học 2022 – 2023 theo kế hoạch. Công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho Nhân dân thực hiện tốt, đảm bảo đủ thuốc, vật tư y tế; đã tổ chức triển khai tiêm vắc xin phòng Covid-19 cho trẻ từ 5 tuổi đến dưới 12 tuổi và trên 18 tuổi đảm bảo hiệu quả và an toàn, đúng tiến độ. Đến ngày 28/7/2022, toàn tỉnh đã tiêm 729.648 liều vắc xin (tỷ lệ tiêm mũi 4 đạt 21,93%). Hoạt động văn hóa, thể thao được tổ chức thực hiện phù hợp với tình hình mới. Trong tháng, tỉnh đã cử vận động viên tham gia thi đấu cấp quốc gia một số bộ môn đạt 5 Huy chương. Tỉnh đã tổ chức thành công Giải vô địch bóng bàn trẻ thiếu niên, nhi đồng quốc gia năm 2022. Tiếp tục tổ chức xây dựng quy hoạch, bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích quốc gia đặc biệt ATK Chợ Đồn; phát huy giá trị danh lam thắng cảnh hồ Ba Bể; thực hiện các dự án bảo tồn văn hóa các dân tộc tỉnh.

Các chính sách an sinh xã hội được quan tâm thực hiện. Từ đầu năm đến nay, ngành chức năng đã tư vấn, giới thiệu việc làm được 4.650 lượt người, đạt 66,4%; giải quyết việc làm cho 2.750 người, đạt 50% kế hoạch. Nhân kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ, tỉnh đã chuyển 3.565 suất quà của Chủ tịch nước với trị giá 1,1 tỷ đồng cho người có công, thân nhân người có công với cách mạng. Các cấp, các ngành và địa phương đã tổ chức nhiều đoàn đi thăm và tặng 2.762 suất quà với trị giá trên 900 triệu đồng cho các gia đình chính sách, người có công, thân nhân người có công với cách mạng. Tổ chức đoàn cán bộ dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn, Nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên và Nghĩa trang liệt sĩ trong tỉnh; tổ chức hội nghị biểu dương và đưa người có công tiêu biểu của tỉnh gặp mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Công tác quản lý tài nguyên môi trường tập trung xử lý vướng mắc giải phóng mặt bằng các dự án trọng điểm, tăng cường hoạt động đấu giá quyền sử dụng đất, quyền khai thác khoáng sản, góp phần đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn đầu tư, tăng thu ngân sách tỉnh.

Cơ quan quân sự các cấp chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền triển khai toàn diện công tác quốc phòng, quân sự địa phương; duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu. Phối hợp với lực lượng công an nắm chắc tình hình, đảm bảo về an ninh, trật tự; tổ chức tuyên truyền, phổ biến kiến thức quốc phòng, an ninh cho các đối tượng theo kế hoạch. Chuẩn bị tốt các điều kiện tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ; phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn cấp huyện năm 2022. Lực lượng công an điều tra, khám phá 51/52 vụ, làm rõ 54 đối tượng phạm pháp hình sự, tỷ lệ khám phá án đạt 96%; xử lý 834 trường hợp vi phạm Luật Giao thông, thu nộp ngân sách nhà nước trên 574 triệu đồng. Toàn tỉnh xảy ra 1 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm 1 người bị thương, thiệt hại tài sản khoảng 70 triệu đồng (giảm 2 vụ, bằng số người bị thương so với cùng kỳ năm 2021). Lực lượng Kiểm lâm đã phát hiện và xử lý 74 vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp (tăng 32 vụ so với cùng kỳ năm 2021); tịch thu 83 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách nhà nước 69 triệu đồng. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và cải cách tư pháp được cấp ủy, chính quyền các cấp quan tâm, chỉ đạo. Tập trung đôn đốc việc xử lý các vụ án, vụ việc bức xúc, nổi cộm dư luận xã hội quan tâm…

Về một số nhiệm vụ trọng tâm trong tháng 8, Thường trực Tỉnh ủy định hướng chỉ đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:

(1) Tập trung chăm sóc, phòng trừ sâu, bệnh cho cây trồng, vật nuôi. Chủ động thực hiện phương án phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn. Quản lý chặt chẽ công tác bảo vệ rừng, tăng cường kiểm tra, giám sát các cơ sở sản xuất chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh.

(2) Tích cực đôn đốc thực hiện toàn diện các nhiệm vụ của Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới.

(3) Tăng cường thực hiện các giải pháp phát triển công nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở công nghiệp sản xuất ổn định. Hoàn thành nhiệm vụ lập Quy hoạch chi tiết xây dựng các cụm công nghiệp; đôn đốc tiến độ đầu tư xây dựng các dự án trọng điểm. Triển khai tốt chương trình khuyến công của tỉnh. Quản lý, đảm bảo an toàn trong hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản và an toàn vật liệu nổ công nghiệp.

(4) Tập trung chỉ đạo quyết liệt giải ngân vốn đầu tư công năm 2022. Giao kế hoạch vốn và chỉ đạo triển khai thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 – 2025 và năm 2022.

(5) Thực hiện hiệu quả các giải pháp đôn đốc thu và chống thất thu, phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu thu ngân sách năm 2022 theo kế hoạch. Tăng cường công tác quản lý chi ngân sách nhà nước, đảm bảo chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả. 

(6) Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường; chuẩn bị công tác lập Kế hoạch sử dụng đất năm 2023; rà soát điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp huyện; kiểm tra, rà soát và kiên quyết thu hồi đất các trường hợp không sử dụng, có vi phạm pháp luật.

(7) Chỉ đạo thực hiện tốt các lĩnh vực văn hoá – xã hội. Chuẩn bị các điều kiện cho năm học mới 2022 – 2023. Tiếp tục thực hiện công tác kiểm tra, kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận trường đạt chuẩn quốc gia năm 2022. Tập trung các giải pháp nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh tại các tuyến; chỉ đạo các cơ sở khám, chữa bệnh thường trực 24/24 giờ, đảm bảo công tác cấp cứu, khám, chữa bệnh và phòng, chống dịch bệnh. Đẩy mạnh chiến dịch tiêm vắc xin phòng Covid-19 theo kế hoạch. Tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin, tuyên truyền chào mừng kỷ niệm 77 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 phù hợp với tình hình thực tế. Thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ chính sách cho các đối tượng chính sách xã hội, người có công; quan tâm công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động. Tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin, tuyên truyền chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn theo kế hoạch.

(8) Làm tốt công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, không để bị động, bất ngờ, hình thành “điểm nóng”. Tiếp tục chuẩn bị các điều kiện để tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ và phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn cấp huyện theo kế hoạch. Thực hiện tốt công tác tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý đơn thu; đẩy nhanh tiến độ giải quyết các vụ án, vụ việc. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác phòng, chống tham những, tiêu cực. Tiếp tục chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ xử lý, giải quyết các vụ án, vụ việc theo quy định.

(9) Tập trung quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nuớc, của tỉnh. Khẩn truơng xây dựng kế hoạch, chương trình hành động thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương và Tỉnh ủy mới ban hành để tổ chức thực hiện đảm bảo hiệu quả. Hoàn thành việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo chủ đề “tự soi” “tự sửa” theo Kế hoạch số 95-KH/TU ngày 21/3/2022 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy./.

 

 

Nguồn: https://backan.gov.vn/pages/trong-thang-8-tap-trung-thuc-hien-9-nhiem-vu-trong-tam-9485.aspx

Đăng tải và cập nhật danh sách cá nhân, tổ chức giám định tư pháp

0

UBND tỉnh ban hành Công văn số 5126/UBND-NCPC ngày 8/8/2022 chỉ đạo thực hiện việc đăng tải và cập nhật danh sách cá nhân, tổ chức giám định tư pháp trên Cổng Thông tin điện tử tỉnh.

Theo đó, UBND tỉnh giao Cổng Thông tin điện tử tỉnh đăng tải Văn bản này và danh sách tổ chức giám định tư pháp công lập, giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn để cơ quan, tổ chức, cá nhân thuận tiện liên hệ khi có nhu cầu.

Các sở, ngành có giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc có trách nhiệm thường xuyên rà soát, kịp thời phối hợp với Sở Tư pháp cập nhật danh sách khi có thay đổi.

Danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc này là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng lựa chọn, quyết định việc trưng cầu giám định theo quy định./.

Nguồn: https://backan.gov.vn/pages/dang-tai-va-cap-nhat-danh-sach-ca-nhan-to-chuc-gia-ec78.aspx

Đoàn công tác của tỉnh Bắc Kạn học tập kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng tại tỉnh Sơn La

0

Nối tiếp chương trình học tập kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng tại tỉnh Hòa Bình, trong 2 ngày 7 – 8/8/2022, đoàn công tác tỉnh Bắc Kạn do Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Duy Hưng làm Trưởng đoàn tiếp tục đi tham quan, học tập phát triển du lịch cộng đồng tại tỉnh Sơn La.

Cùng đi có lãnh đạo Ban Văn hóa – Xã hội HĐND tỉnh; lãnh đạo và phòng chuyên môn Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; lãnh đạo Sở Xây dựng; lãnh đạo Văn phòng UBND tỉnh; Hiệp hội Du lịch tỉnh; lãnh đạo UBND huyện Ba Bể cùng đại diện một số thôn của xã Nam Mẫu.

Đoàn công tác của tỉnh khảo sát điểm du lịch cộng đồng Bản Vặt, xã Mường Sang, huyện Mộc Châu
(Sơn La)

Đoàn đã đi tham quan, khảo sát thực tế Homstay Tiến Quân tại Bản Bó, thành phố Sơn La và các điểm du lịch cộng đồng huyện Mộc Châu (tỉnh Sơn La)…

Tại các nơi đến khảo sát, Đoàn công tác được lãnh đạo UBND tỉnh Sơn La, chính quyền sở tại và người dân chia sẻ kinh nghiệm làm du lịch cộng đồng, từ cơ chế, chính sách hỗ trợ, cách thức tổ chức và quản lý, xây dựng sản phẩm du lịch, quảng bá du lịch đến việc giữ gìn bản sắc văn hóa, cảnh quan thiên nhiên, vệ sinh môi trường phục vụ du lịch.

Qua chuyến tham quan học tập, các hộ làm du lịch tại xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể cũng được tiếp cận, học hỏi các mô hình du lịch cộng đồng, từ đó đánh thức tiềm năng, thế mạnh, nhân rộng mô hình, góp phần phát triển du lịch trong thời gian tới./.

Nguồn: https://backan.gov.vn/pages/doan-cong-tac-cua-tinh-bac-kan-hoc-tap-kinh-nghiem-5415.aspx

Tăng thêm 3.422 doanh nghiệp, doanh thu công nghệ số đạt 72,5 tỷ USD

0

Chiều 18/7, Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức Hội nghị giao ban quản lý nhà nước 6 tháng đầu năm 2022.

Theo số liệu mới nhất từ Bộ Thông tin và Truyền thông, đến nay, số doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam đến nay ước đạt 67.300, tăng 3.422 doanh nghiệp so với tháng 12/2021, đạt tỷ lệ xấp xỉ khoảng 0,69 doanh nghiệp/1.000 dân (bằng 98% kế hoạch năm là 0,7 doanh nghiệp/1.000 dân, năm 2022 Việt Nam đặt mục tiêu sẽ đạt 70.000 doanh nghiệp công nghệ số).

Trước đó, theo Chiến lược phát triển công nghiệp công nghệ số Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến 2030, mục tiêu đến năm 2025 sẽ phát triển 80.000 doanh nghiệp công nghệ số.

Tăng thêm 3.422 doanh nghiệp, doanh thu công nghệ số đạt 72,5 tỷ USD 3

Số doanh nghiêp công nghệ số của Việt Nam đang tăng nhanh trong 6 tháng đầu năm 2022.

Tuy nhiên, việc phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam tại các địa phương không được đồng đều. Số lượng doanh nghiệp công nghệ số tập trung chủ yếu vào 4 địa phương với tỷ lệ doanh nghiệp công nghệ số/1.000 rất cao như: TP.HCM (3,19), Hà Nội (2,29), Đà Nẵng (2,24) và Bắc Ninh (1,02). Tổng số doanh nghiệp công nghệ số của 4 tỉnh thành này chiếm hơn 72% tổng số doanh nghiệp công nghệ số của cả nước.

Trong khi đó, có nhiều tỉnh/thành tỷ lệ này còn ở mức rất thấp, với tỷ lệ doanh nghiệp công nghệ số/1.000 dân chỉ ở mức 0,07 so với tỷ lệ trung bình chung (0,677) nên chưa đáp ứng được nhu cầu chuyển đổi số, phát triển kinh tế xã hội tại địa phương.

Cũng theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyên thông, tổng doanh thu công nghiệp công nghệ thông tin trong 6 tháng đầu năm ước đạt 72,5 tỷ USD tăng trưởng 17,8% so với cùng kỳ.

Kim ngạch xuất khẩu phần cứng – điện tử ước đạt 57 tỷ USD (tăng 16,4% so với cùng kỳ), trong đó xuất khẩu máy tính ước đạt 29,1 tỷ USD (tăng 21,8%) và xuất khẩu điện thoại ước đạt 27,9 tỷ USD (tăng 11,2% so với cùng kỳ).

Đáng chú ý là, trong cơ cấu doanh thu công nghiệp công nghệ thông tin 6 tháng qua, tỷ lệ giá trị Make in VietNam đạt hơn 26,7% với giá trị ước đạt khoảng 19,4 tỷ USD.

Tú Ân

Tổng cục Thuế nhận hơn 300 hồ sơ đăng ký thuế lần đầu qua Cổng dịch vụ công quốc gia

0

Tổng cục Thuế nhận hơn 300 hồ sơ đăng ký thuế lần đầu qua Cổng dịch vụ công quốc gia 0

Ngành thuế phối hợp với các bộ, ngành khác cung cấp dịch vụ thuế điện tử, tạo thuận lợi hơn cho người nộp thuế.

Bộ Tài chính cho biết theo kế hoạch tại Quyết định số 107/QĐ-BTC ngày 28/1/2022 về việc triển khai thực hiện Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 6/1/2022 của Thủ tướng Chính phủ, Tổng cục Thuế được giao nhiệm vụ tổ chức tích hợp, cung cấp dịch vụ xác thực thông tin về số chứng minh nhân dân (9 số), căn cước công dân trên Cổng dịch vụ công quốc gia và cơ sở dữ liệu thuế.

Nhờ đó, để xác thực thông tin về người nộp thuế trong giải quyết thủ tục hành chính lĩnh vực thuế và kết nối, chia sẻ giữa cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với cơ sở dữ liệu thuế.

Hiện Tổng cục Thuế đang khai thác 3 dịch vụ của cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư do Bộ Công an cung cấp.

Một là, dịch vụ xác nhận số định danh cá nhân và chứng minh thư. Cơ quan thuế gửi thông tin căn cước công dân, chứng minh thư, họ và tên. Sau khi nhận được, Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06) sẽ phản hồi thông tin đúng hoặc sai.

Hai là, dịch vụ xác nhận thông tin gia đình. Cơ quan thuế gửi thông tin số định danh chủ hộ, ngày sinh chủ hộ, họ tên chủ hộ, thông tin thành viên. Sau khi nhận được thông tin, Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06) phản hồi thông tin đúng, sai.

Ba là, dịch vụ chia sẻ thông tin công dân qua kênh kết nối với Văn phòng Chính phủ (trục liên thông văn bản quốc gia). Cơ quan thuế gửi số căn cước công dân hoặc chứng minh nhân dân, họ tên, ngày sinh. Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06) sẽ gửi về 20 trường thông tin của cá nhân.

Kể từ ngày 18/5, ngành thuế bắt đầu tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký thuế lần đầu của cá nhân không kinh doanh qua Cổng dịch vụ công quốc gia có kết nối với cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân cư.

Tổng cục Thuế nhận hơn 300 hồ sơ đăng ký thuế lần đầu qua Cổng dịch vụ công quốc gia 12

Theo lãnh đạo Cục Thuế TP. Hà Nội, dịch vụ tiếp nhận và xử lý hồ sơ đăng ký thuế lần đầu, thay đổi thông tin đăng ký thuế của cá nhân không kinh doanh qua Cổng dịch vụ công quốc gia kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư là nội dung quan trọng trong việc hướng tới hỗ trợ toàn diện cho người nộp thuế, khi các dịch vụ thuế được tích hợp trên Cổng dịch vụ công quốc gia.

Đến nay, Tổng cục Thuế tiếp nhận 346 hồ sơ đăng ký thuế lần đầu và 849 hồ sơ thay đổi thông tin đăng ký thuế của cá nhân không kinh doanh qua Cổng dịch vụ công quốc gia. Đơn vị cũng đang tiếp tục tham gia góp ý kiến cùng Bộ Công an để hoàn thiện nội dung nghị định quy định về định danh và xác thực điện tử do Bộ Công an chủ trì xây dựng.

Tổng cục Thuế cho biết hiện đang tiếp tục phối hợp với Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trậ tự xã hội (C06) triển khai tiếp 2 dịch vụ làm cơ sở rà soát chuẩn hóa thông tin đăng ký thuế phục vụ mục tiêu sử dụng mã định danh công dân làm mã số thuế.

Thứ nhất là dịch vụ gợi ý số định danh cá nhân. Tổng cục Thuế gửi thông tin số chứng minh nhân dân, họ và tên, ngày tháng năm sinh, năm sinh, giới tính. Bộ Công an phản hồi có tồn tại hay không tồn tại cá nhân này và gửi kèm số định danh cá nhân hoặc số căn cước công dân nếu tồn tại.

Cùng với đó là dịch vụ gợi ý số định danh cá nhân (không có số chứng minh nhân dân). Tổng cục Thuế gửi thông tin số họ và tên, ngày tháng năm sinh, năm sinh, giới tính, địa chỉ thường trú, Bộ Công an phản hồi thông tin công dân và số định danh cá nhân hoặc số căn cước công dân.

Tổng cục Thuế đang tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền về dịch vụ thuế điện tử mà ngành thuế phối hợp với các bộ, ngành khác cung cấp dịch vụ công ngày càng thuận lợi hơn cho người nộp thuế.

Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 107/QĐ-BTC ngày 28/1/2022 nhằm triển khai thực hiện Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 6/1/2022 của Thủ tướng Chính phủ về đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030.

Trâm Anh –